Nhất sinh cô chú trịch ôn nhu – Dẫn tử

Dẫn tử

Triều Cẩm Hạ Hiến Văn Đế, mùa thu năm Phượng Thê[1] thứ ba, sứ thần Tây Nhung triều kiến[2].

[1] Phượng thê: có nghĩa là chim phượng đậu xuống.

[2] Triều kiến: vào triều yết kiến vua.

Hiến Văn Đế Triệu Cư tựa trên bảo toạ cửu long, trong tay cầm công văn và danh sách cống phẩm mà Lễ Bộ thượng thư trình lên, lắc lắc, mỉm cười nói: “Đúng là khách hiếm thấy. Các bộ ở Tây Nhung cũng nhiều năm không đến rồi nhỉ. Nghe nói năm ngoái Phù Dương đánh bại tộc Đê, thống nhất các tộc, tự xưng là Tây Nhung Vương, kéo dài đến nay mới chịu tới, giữ giá cũng không vừa đâu… Hừ!”

Đứng bên dưới, thủ lĩnh đoàn sứ thần Tây Nhung Phù Diệc toan mở miệng giải thích, Triệu Cư đã tiếp lời: “Bách hợp khô năm mươi cân, hạnh nhân năm mươi cân, cỏ thiên thu mười giỏ, lạc đà hai mươi con, lông điêu mười tám chiếc… Sao Trẫm lại thấy, Phù Dương đây là đang bố thí cho ăn mày thế nhỉ!”

Khuôn mặt ngăm đen của Phù Diệc căng cứng đến tím tái, xấu hổ cùng giận dữ đan xen, nhẫn nhịn hồi lâu, mới mở miệng nói: “Khởi bẩm thánh thượng, mùa đông năm ngoái tuyết lớn, mùa xuân năm nay lại gặp bão cát. Chỉ mong vào hạ thuỷ thảo[3] đủ đầy, có thể xoay chuyển một chút, ai ngờ liên tục một tháng trời không mưa… Thật sự là… Thánh thượng, Tây Nhung hoang vắng cằn cỗi, dân chúng mưu sinh không dễ, xin thánh thượng thông cảm.”

[3] Thuỷ thảo: nguồn nước và đồng cỏ.

Triệu Cư cười lạnh: “Nếu không phải Trẫm thông cảm cho các ngươi, thì năm ngoái đã sai Uy Vũ tướng quân dẫn binh lính Cẩm Hạ ta đánh vào Ô Kiền Đạo, hôm nay e Phù Dương chỉ còn là một du hồn mà thôi.”

Ô Kiền Đạo là sơn cốc trực tiếp vây chặt ốc đảo Mai Lý của đại mạc Tây Bắc, cũng là nơi trọng yếu mà Phù Dương tranh đoạt cùng các bộ khác.

Phù Diệc lặng lẽ nâng tay áo lên lau một mảng mồ hôi, không dám tiếp lời.

“Xem công văn này viết mà xem: ‘Hoàng đế bệ hạ an ổn thiên thu, nhiều phúc nhiều thọ’… Nói trắng ra thì như là lời lẽ của trẻ con vậy, thật sự thê thảm vô cùng. Trở về nói với chủ tử của các ngươi, các tộc ở phía Nam mỗi nơi đều chọn ra hai trạng nguyên, trước giờ trong các bộ của Tây Nhung, ngay cả học đường tiêu chuẩn còn chưa từng thiết lập, sau này cũng đừng oán trách tại triều đình đây không có chỗ lập thân.”

Khuôn mặt căng tím của Phù Diệc lại hoá đen kịt. Tiếc là trong bụng hắn mực nước[4] không đủ, bằng không nhất định có thể lấy “thương lẫm thực nhi tri lễ tiết, y thực túc nhi tri vinh nhục”[5] ra mà thẳng thắn ứng đối. Mấy năm nay Tây Nhung vẫn luôn giãy dụa giữa lằn ranh no ấm, dựa vào thuỷ thảo mà sinh sống, nào có tâm sức để ý đến mấy thứ học đường xa xỉ này.

[4] Mực nước: ở đây chỉ kiến thức, hiểu biết.

[5] Thương lẫm thực nhi tri lễ tiết, y thực túc nhi tri vinh nhục: câu này nghĩa là, khi kho lúa của dân chúng sung túc, cơm no áo ấm thì mới có thể chú ý đến lễ nghi, coi trọng vinh dự và sỉ nhục được.

Nhớ những lời đại vương dặn dò trước khi đến, vội vàng hành lễ một cái, bảo: “Thánh thượng anh minh. thần vương nghe nói kinh thành phồn thịnh phát triển, thập phần mong mỏi được tận mắt mở mang một phen, cũng để thay mặt dân chúng Tây Nhung chính tai nghe thánh thượng dạy bảo một chút, không biết…”

Phù Dương muốn đến ư? Khúc này quả là vượt ngoài dự kiến mà. Triệu Cư len lén quan sát nội thị tổng quản An Thần đương đứng trang nghiêm một bên, muốn hỏi chủ ý. Tiểu An Tử đáng chết này, đúng là mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, cứ như là đang thiền vậy.

Làm sao bây giờ? Đối phương diễn không theo kịch bản đã ấn định trước, mắt thấy xung quanh tẻ ngắt. Mà thôi, bản thân là nhân vật chính thứ nhất, hẳn là phải ngẫu hứng phát huy quyền lực rồi.

Triệu Cư có vẻ trầm ngâm, nhìn văn thư trong tay. Ầy, nhạt như nước ốc. Không viết ra được rực rỡ tung bay, thì một chút đoan trang tao nhã cũng được mà. Đúng là chà đạp chữ nghĩa. Lại nhìn đoàn sứ thần đứng bên dưới, hơn mười đại hán vừa đen vừa đô, mặt mũi khó ưa, quả thật là uỷ khuất cho một đôi tuệ nhãn của chính mình. Không khỏi vạn phần tưởng nhớ đến hai gương mặt trắng mịn đẹp đẽ của Ngẫu Quan và Hà Quan ở “Phong Nguyệt Đài”, tiện thể lại nhớ tới thân người cực kì linh hoạt cùng da thịt mềm mịn kia.

Cái gì mà Tây Nhung Vương Phù Dương này, vẫn nên đừng đến thì hơn, đỡ phải nhìn thấy mà quáng mắt choáng tâm.

Nhãn cầu chuyển động, nảy ra sáng kiến.

“Lời nói như gió thoảng bên tai, sao có thể sánh bằng văn tự muôn đời trường tồn? Để Trẫm ban cho Phù Dương một ít điển tịch[6] nội phủ trân quý là được rồi. Về phần cảnh đẹp kinh đô, mang một bức hoạ về cho chủ tử nhà ngươi xem, cũng coi như an ủi. Lúc nào, hắn đọc thông thạo hết mấy quyển sách kia, thì lại đến Khung Dương Thành Vĩnh Gia Điện này nghe Trẫm dạy bảo.” Tự thấy thú vị, liền bật cười ha hả.

[6] Điển tịch: sách cổ.

Đa số đại thần bên dưới đều cảm thấy lời ấy của thánh thượng làm tăng mạnh tôn nghiêm của nước Cẩm Hạ mình, cũng liền cười theo. Phù Diệc nhất thời không biết nên đáp lời ra sao, đành phải ngượng ngùng ứng đối.

Hạ triều, Triệu Cư chờ đến khi quần thần đều không trông thấy, kích động hỏi An Thần: “Thế nào? Tiểu An Tử, hôm nay Trẫm diễn có được không?”

“Rất có uy nghi của đế vương, đáng khen.”

“Mấy lời đao to búa lớn mà Hữu tướng nói kia, Trẫm đâu có nhớ được. Vẫn là chủ ý của ngươi cao, đem tất cả trở thành kịch nam[7], coi như lên đài diễn kịch… Quả nhiên thú vị.”

[7] Kịch nam: loại hình nghệ thuật sân khấu ở miền Nam, thời xưa.

“Là bệ hạ thiên tư tuyệt diệu.” Trong lòng thầm nghĩ, cái bao cỏ này, thế mà chỉ có lúc giả vờ diễn kịch mới có chút dáng vẻ hoàng đế. Tên hèn hạ gửi hồn nơi hoàng thất như vậy, thật đúng là trò cười lớn cho thiên hạ. Nghe ý tứ ngày ấy của Hữu tướng, triều đình đúng là chẳng còn dư tinh lực để ý đến sự vụ của Tây Nhung, mới bảo hoàng đế cố làm ra vẻ gây khó dễ bằng lời nói một phen, chỉ mong Phù Dương không dò ra hư thực, ngàn vạn lần đừng khơi lên ý niệm mơ tưởng đến trung thổ.

“Nghe nói Phù Dương kia thô lỗ dã man, giống như ác quỷ vậy. Hắn mà đến đây, chẳng phải Trẫm sẽ phải huy động dân chúng Khung Dương Thành bịt kín mắt lại ư?” Triệu Cư miệng thì nói, lòng lại nhớ đến mấy lời về thế cục Tây Bắc mà mấy ngày trước Binh Bộ thượng thư nhất định muốn quấn lấy mình để thuyết giáo, cái khác không nhớ, chỉ nhớ rõ lão nói, Tây Nhung người người đều dũng mãnh, Phù Dương này lại càng uy vũ quả cảm, giết người như ngoé. Ma quỷ đến vậy, sao dám để hắn vào kinh lên điện kia chứ? Có điều lời này dù là với Tiểu An Tử, xét cho cùng vẫn ngại nói ra.

Thở dài: “Đáng tiếc đã đáp ứng cho hắn sách với tranh.”

“Bệ hạ định ban cho Tây Nhung điển tịch và hoạ quyển nào?”

“Sách ấy à, cứ để bọn họ tự mình chọn là được – dù sao mấy cái tráp mọt ruỗng ở nội khố kia cũng chẳng có mấy bộ Trẫm để mắt.”

Khẩu vị của đương kim thánh thượng đặc biệt, thích thơ văn ướt át phong lưu, lại càng yêu loại từ[8] ngả ngớn diễm tục lưu hành nơi đường phố. Sau khi tự mình chấp chính năm mười sáu tuổi, liền không bước vào “Tập Hiền Các” của nội phủ tàng thư một bước. Điển tịch nói về kinh sử, thì lại gọi là “tráp mọt ruỗng”. “Tập Hiền Các” này ở thời Duệ Văn Đế xưa kia từng có một cái tên hoa lệ hàm súc, là “Đan Châu Bích Thụ Lâu”, chuyên dùng để cất chứa tranh chữ hoàng gia. Nghe đâu lai lịch có chút khó nói. Sau này sửa lại thành thư khố, nên cũng đổi tên khác. Triệu Cư ngược lại rất thích cái tên cũ kia, nhưng thật sự chẳng muốn rước thêm càm ràm của đám lão nhân trong triều, nên chỉ đành nghĩ trong lòng liền thôi.

[8] Từ: một thể loại văn cổ của TQ.

“Về phần tranh, trong số đám đồ mô phỏng nội khố mà ‘Bảo Hàn Đường’ gần đây đưa tới, chẳng phải vừa hay có bức ‘Vật hoa thiên bảo đồ’ của Trâu Ước ư? Chính là nó.”

Thời Giản Văn Đế xưa kia, Trâu Ước từng làm tiến sĩ dạy học ở hoạ viện hoàng gia ba năm, lưu truyền đời sau cũng chỉ còn bức “Vật hoa thiên bảo đồ” này mà thôi. Trên thực tế nó là một bức trướng khổ lớn do sáu bức dựng thẳng tạo thành, phân biệt mô tả bến tàu cầu Lạc Hồng, đường lớn Cam Lộ, Hoàng thành nước trong vờn quanh, phường Bạch Thạch cùng đường Nam Khúc[9], Định hồ, sáu khu phong cảnh đường Bắc Khúc[10]. Tách ra thì đều là những bố cục riêng biệt, hợp vào lại thành một bức phong cảnh chỉn chu. Lấy hoàng thành làm trung tâm, tái hiện lại cảnh trí kinh đô tráng lệ phồn hoa bậc nhất trên giấy. Trong đấy cầu dài nước chảy, thuyền bè ngựa xe, người người phố phố, cung điện nhà cửa… đủ loại thắng cảnh nhân gian, thứ gì cần có thì đều có.

[9] Nam khúc: làn điệu lưu hành ở miền nam TQ thời Tống, Nguyên, Minh.

[10] Bắc khúc: khúc điệu phương Bắc, lưu hành từ thời Tống Nguyên đến nay.

Vẫn theo quy củ mà Hiển Chiêu Đế khi xưa lập ra, tất thảy tàng phẩm tranh chữ ở nội khố đều được trọng trang và mô phỏng để bảo lưu theo định kì. Vừa vặn tháng trước “Bảo Hàn Đường” đưa tới một nhóm phỏng tác mới hoàn thành. Trong đó có bức “Vật hoa thiên bảo đồ” do cao thủ tìm đến mất hơn một năm vẽ ra.

Triệu Cư tiếc hận lắc đầu: “Dù chỉ là tác phẩm mô phỏng, đem cho Phù Dương, thì cũng như trâu gặm mẫu đơn, minh châu vứt xó. Bức ‘Vật hoa thiên bảo đồ’ này có khâm đề của tổ tiên ta ở trên, là bảo bối bậc nhất của Phủ nội vụ, trở về bảo Giang Gia phỏng lại cho ta một bức khác.”

An Thần đáp ứng.

Triệu Cư bỗng bật cười: “Nếu bàn về vật hoa thiên bảo[11], Khung Dương trăm năm trước sao có thể sánh với ngày hôm nay? Đừng nói phong thái của Hoàng thành cùng đường lớn Cam Lộ, ngay cả đường Nam Khúc, ngõ Thu Ba mấy chỗ đó, chỉ sợ cũng không hơn được bầu trời trên Lăng Tiêu Điện, đáy biển dưới Thuỷ Tinh Cung.” Nói đến đây, lại nhớ tới một chuyện, “Tiểu An Tử, trung thu năm nay các ngươi định bố trí ra sao? Mấy trò tạp kĩ kim sơn ngọc thụ trăm hoa đua nở phiêu bồng lâng lâng, Trẫm xem đến phát chán rồi.”

[11] Vật hoa thiên bảo: chỉ đồ vật cảnh vật xa hoa lộng lẫy…

“Mấy ngày trước thương lượng cùng Vạn đại nhân, nói chẳng bằng năm nay xin bệ hạ ban một đề mục, Phủ nội vụ chỉ một mực để ý xét duyệt phương án rồi phát bạc, dạy bọn họ một trận để phải tự phát triển đề mục đi, chưa biết chừng có thể có chút chủ ý mới mẻ.”

“Bản thân chủ ý này cũng rất mới mẻ đó. Tốt lắm, để Trẫm suy xét một chút… Lại phải lao tâm khổ tứ rồi đây…”

An Thần vội nói: “Đã thăm hỏi tốt với La lão bản ở “Phong Nguyệt Đài”, nói tối nay bệ hạ giá lâm rồi.”

Triệu Cư nghiêm trang gật gù: “Đạo làm vua, phải nên trên thuận thiên ý, dưới xét dân tình, cần cù cố gắng, không thể xao lãng…”

 

Đầu đông năm Phượng Thê thứ ba, đoàn đặc sứ Tây Nhung mang theo lượng lớn điển tịch Hạ văn cùng bức “Vật hoa thiên bảo đồ” miêu tả thắng cảnh kinh đô mà hoàng đế Cẩm Hạ ban cho, rời khỏi Khung Dương, trước khi tuyết phủ ngập đường liền trở về Mai Lý.

Trong đại trướng, Phù Dương nghe Phù Diệc hồi bẩm tường tận chuyến đi này, nghe được Triệu Cư đã nhục nhã đặc sứ Tây Nhung ra sao, trong mắt liền loé tinh quang: “Hoàng đế Hạ triều nói năng cay nghiệt này, bình thường bộ dáng ra sao?”

“Cùng lắm mới có hai mươi, dáng vẻ rất thanh tú, có cái là bộ mặt trong trắng bệch lộ xanh xao, giống như… bị tửu sắc vét sạch thân thể vậy.”

“Hừ! Chẳng trách mấy năm nay toàn nghe người Hạ vãng lai nói hoàng đế ngu ngốc hoang đường. Vậy xem ra, hoàng đế này hơn phân nửa chỉ là mồm mép tép nhảy thôi. Cho hắn chiếm chút tiện nghi miệng lưỡi, thì có gì ngại đâu? Binh sĩ trong hoàng cung của hắn, có thể sánh bằng quân lính Tây Nhung ta chăng?”

Phù Diệc đáp: “Chỉ được mã ngoài mà thôi. Ở Khung Dương, chúng ta cũng từng bắt gặp cấm vệ quân tuần tra vài lần, lười nhác lơi lỏng, không chịu nổi một kích. Có điều, nghe nói bên người hoàng đế có cao thủ khác.”

“Hai quân đối chọi, cao thủ còn dùng được cái rắm!”

Đang định nói tiếp thì thị về vào bẩm báo, có Cẩm phi cầu kiến. Phù Diệc lui xuống, một nữ tử đoan chính, thanh nhã và dịu dàng bước vào, hành lễ với Phù Dương: “Tham kiến đại vương.”

“A Phương, nàng tới thật đúng lúc, Phù Diệc mang về không ít sự vật trung thổ, nàng thích thứ gì thì cứ chọn.”

Cẩm phi Cố Tri Phương vốn là con gái của tội thần Cẩm Hạ bị lưu đày, được một bộ lạc nhỏ ở Tây Nhung bắt về dâng cho Phù Dương. Bộ dáng nàng xinh đẹp, tuy nói là lưu lạc tha hương, nhưng dù sao cũng xuất thân từ gia đình thi lễ, thứ phong độ đoan trang của trí thức này nữ tử Tây Nhung bản xứ dù có học thế nào cũng không được. Mấy năm nay Phù Dương vốn có tâm học tập lễ nghi điển chế[12] của trung thổ, rất sủng ái vị phi tử dị tộc này.

[12] Điển chế: quy chế và pháp luật.

“Đại vương ưu ái, vẫn xin để những tỷ muội khác chọn trước đi ạ. A Phương chỉ muốn cầu xin đại vương một việc.”

“Nói nghe thử xem.”

“Thiếp nghe Tiểu Ly cùng đi sứ nói, lần này mang về không ít thư tịch Hạ văn, còn có một bức hoạ, có thể cho thiếp xem được không…”

Phù Dương cười ha ha: “Ra là nàng nhìn trúng mấy thứ này. Vốn định để Mạc tiên sinh giúp thu thập, mà chưa chắc lão đã có bản lĩnh, thôi thì dứt khoát làm phiền ái phi đi.”

Cố Tri Phương mỉm cười, hành lễ thật sâu. Về đến trướng của mình, lập tức gọi người đưa tới thư tịch hoạ quyển mà đặc sứ mang về. Căn dặn một phen, cuối cùng vẫn không yên tâm, dứt khoát tự mình đi theo chỉ huy.

Hơn mười rương lớn chuyển đến, xếp đặt chỉnh tề, trước tiên rút bức hoạ trong tráp ra.

Chậm rãi bày ra – đập vào mắt là trọng loan tủng thuý, phi các lưu đan[13], giang sơn thắng cảnh, cố quốc quê hương.

[13] “Trọng loan tủng thuý” là chim loan trĩu cánh, chim thuý thẳng cánh bay. “Phi các lưu đan” ý chỉ cung điện lầu các nguy nga.

Trên bức tranh này, gần như mỗi một nơi đều lưu lại dấu chân mình thời thơ ấu. Mười mấy năm, cảnh tượng từng mộng bao đêm bỗng nhiên rực sáng ngay trước mắt, nhất thời lệ ướt đáy lòng.

Nhịn không được cầm lấy bút, rồi lại do dự. Đề thế nào mới tốt đây? Chấm trong nghiên mực hồi lâu, liền đặt bút xuống chỗ trống phía dưới cùng. Đầu đề “Vĩnh ngộ lạc”[14] còn chưa viết xong, nhi tử năm tuổi Phù Sinh đã một mạch lao vào, đầy đầu mồ hôi cả người bùn nước không nói, trên mặt còn thêm vài chỗ xanh tím. Đành phải buông bút, chỉnh đốn tâm tình, nghiêm mặt lại: “Trường Sinh, lại đi đâu hả?”

[14] Vĩnh ngộ lạc: mãi mãi an vui.

Phù Sinh đắc ý nhe răng: “Mẹ, hôm nay con đánh Phù Lưu đến nỗi kêu khóc oa oa – ngay cả Phù Định lén ngáng đường ám toán, con cũng không mệt. Ha ha…”

Phù Lưu là con của Lệ phi, kém Phù Sinh nửa tuổi. Phù Định thì do chính phi của vương gia hạ sinh, lớn hơn Phù Sinh ba tuổi. Bởi vì Phù Sinh có một nửa huyết thống người Hạ, trong tối ngoài sáng đều phải chịu chút ức hiếp.

Cố tình trách mắng nó vài câu, lại cảm thấy trong hoàn cảnh như vậy có dũng mãnh một chút cũng không phải không tốt. Chỉ nói: “Đi tìm Ngân Châu thay quần áo đi, rửa mặt rồi hãng quay lại.”

Đuổi nhi tử đi, liền viết xong câu chữ. Chỉ lát sau Phù Sinh lại tiến vào, thấy bức tranh trên bàn, bèn quấn lấy mẫu thân hỏi này hỏi kia, hai mẹ con nói chậm nói kĩ liền mấy canh giờ.

Tối, Phù Dương đến, trông thấy “Vật hoa thiên bảo đồ”, tới nhìn lướt qua, lập tức chấn động.

Bức tranh kia vẽ theo quan sát từ trên lầu, trăm cửa hàng hỗn tạp, ngựa xe như nước, hoa trăng phơi phới. Bên trong chẳng biết bao nhiêu êm đềm phú quý, hoa mĩ phong lưu.

Nhìn ngây người hồi lâu, hỏi Cố Tri Phương: “Bức tranh này thật sự là Khung Dương Thành?”

“Quả thật là Khung Dương Thành.”

Hôm sau, Phù Dương treo bức tranh trong trướng của mình, triệu đủ thủ hạ, vẫy tay nói: “Các ngươi nhìn xem! Nơi này chính là Khung Dương Thành. Thành trì như vậy, triều Cẩm Hạ có đến mấy chục mấy trăm toà. Ông trời bất công, cớ gì người Hạ nhà cao cửa rộng, con dân Tây Nhung ta lại phải lang bạt khắp nơi? Cớ gì người Hạ mặc lụa là gấm vóc, con dân Tây Nhung ta lại phải chịu đói đến đông người? Cớ gì người Hạ hưởng sơn hào hải vị, con dân Tây Nhung ta lại phải tranh đoạt đồ ăn với đàn sói?”

Đám thủ hạ bắt đầu đỏ mắt nóng tai xoa tay, Phù Dương hài lòng ngồi xuống, sai thị vệ đi mời Mạc tiên sinh.

Chờ người tiến vào, liền đứng dậy nghênh đón: “Tiên sinh. Mời tiên sinh xem thử bức hoạ đặc sứ mang về. Đây là… Mấy câu thơ mà Cẩm phi viết lên… Phiền tiên sinh giải thích cho bản vương.” Hiếm có dịp đại hán uy mãnh Phù Dương này lại có thể lộ ra một tia xấu hổ.

Mạc Tư Dư đi tới nhìn qua, đầu đề chính là “Vĩnh ngộ lạc”:

Thiên phủ Lạc Hồng, nhân gian Cam Lộ, quy mộng trường trú.

Bích thủy dung kim, chu lan tiên ngọc, phong vật tri kỷ hứa?

Khởi la hình ảnh, ti trúc yên vụ, nam bắc tửu thi xử xử.

Tằng ký thủ, đề đăng khiết lữ, quân trang bãi doanh doanh khứ.

 

Phồn hoa cẩm tú, đô lai nhãn để, nhạ khởi thanh sầu vô sổ.

Cựu nhật xuân sam, kim tiêu bạc tửu, chỉ thượng tầm hương lộ.

Hồng nhan dịch lão, thanh bình nhược chất, tiêu đắc kỷ phiên phong vũ?

Kinh hồi thủ, thùy thiều trĩ tử, y nha tiếu ngữ.[15]

[15] Vì trình quá low (và lười) không dịch thơ nổi nên thôi iem xin dịch nghĩa:

Trên phủ trời có Lạc Hồng (cầu vồng), dưới nhân gian có Cam Lộ, đều đem vào trong giấc mộng để lưu giữ lâu dài.

Nước xanh biếc vàng nóng chảy, lan can màu đỏ thắm cùng ngọc thạch lấp lánh, cảnh đẹp biết bao nhiêu?

Hình bóng tà áo nhẹ nhàng, sáo nhỏ trong trời sương khói, rượu và thơ ca ở khắp miền nam bắc.

Nhớ cái thời thắp đèn dẫn theo bạn bè, đều vứt bỏ hết đi đẹp đẽ bề ngoài.

 

Gấm vóc phồn hoa, đều ở trong đáy mắt này, rất nhiều lần dẫn đến buồn sầu.

Áo xuân ngày trước, rượu nhạt đêm nay, tìm kiếm con đường quê hương ở trên giấy.

Hồng nhan rồi cũng thành già cả, lá bèo mỏng manh, chẳng phải trải qua mưa gió cũng sẽ tiêu tan ư?

Giật mình ngoảnh đầu lại, chợt thấy đứa nhóc tóc để chỏm đang bi bô nói cười.

Mạc Tư Dư giải thích từng câu một lượt, không quên thuyết minh lai lịch của mấy nơi như cầu Lạc Hồng, đường Cam Lộ, ngõ Thu Ba. Nói một lúc, thở dài: “Thơ này của vương phi, chỉ là tình cảm nhớ nhà mà thôi, không có ý niệm Nhung – Hạ gì cả. Dù có tổn thương thân thế, cũng chẳng có mối hận cố quốc. Viết ra rất đoan chính.”

“Hoá ra là nhớ nhà. Nhiều năm như vậy không thể trở về, cũng khó trách nàng ấy.”

Mạc Tư Dư nghĩ: tuy rằng đại vương chỉ hiểu thô Hạ văn, đầu óc lại cực kì nhạy bén, những câu chữ này chưa hẳn đã xem không hiểu. Nội tâm vương phi nhiều tài hoa, bài thơ này lại viết rất đơn giản dễ hiểu, chỉ e là cũng cố ý gây nên. Có điều, ý tứ mặc dù dễ hiểu, nhưng nói ra lại không tiện. “Bích thuỷ dung kim, chu lan tiên ngọc”, đều là từ ngữ không may mắn, “Hồng nhan dịch lão, thanh bình nhược chất”, lại càng chẳng lành. Hơn nữa nhịp thơ nguội lạnh kiên cường, không có cảm giác kéo dài… Mà có oán khí. Điều này thì không nhất thiết phải giải thích cho đại vương.

Đêm đó, Phù Dương nắm tay Cố Tri Phương, chỉ vào hình ảnh hào hùng vạn trượng trước mắt: “A Phương, nàng yên tâm. Sinh thời, ta nhất định đưa nàng trở lại quê cũ.” Ánh nhìn dừng lại nơi Vĩnh Gia Điện ngói vàng lưu ly chính giữa bức tranh, “Để nàng được nở mày nở mặt ở trong hoàng cung này, nàng thấy có được không? Người Hạ các nàng có câu gì ấy nhỉ? ‘Áo gấm về nhà’? Ta dùng từ đúng chứ?”

Toàn thân Cố Tri Phương lạnh lẽo, mồ hôi lạnh ứa đầy lòng bàn tay. Người bên cạnh này, quả nhiên anh hùng cái thế, nhưng… lòng ta vì sao lại khủng hoảng đến vậy?

Rút tay ra, tự mình hạ bái: “A Phương liễu yếu đào tơ, sao xứng được với tình ý của đại vương?”

 

Cuối xuân năm Phượng Thê thứ mười một, Phù Dương phát động chiến tranh Nhung – Hạ. Năm thứ mười hai, phá Lãnh Nguyệt quan, gót sắt Tây Nhung tiến quân thần tốc, đạp lên đất đai trung thổ.

Một năm này, Cẩm phi chết bệnh.

Năm Phượng Thê thứ mười ba, binh lính Tây Nhung đánh vào Khung Dương, đại vương tử Phù Định làm tiên phong dẫn đầu đánh vào hoàng cung, cố ý tìm đến nội phủ thư khố, một mồi lửa hoả thiêu “Tập Hiền Các”. Hơn mười vạn cuốn điển tịch được cất giữ trong các qua bao triều đại Cẩm Hạ, toàn bộ hoá tro tàn.

Hiến Văn Đế hoảng hốt chạy trốn về phía Nam, thẳng đến Thục Châu. Tại Tiên Lãng Quan, vùng giáp ranh hiểm yếu nhất của Ung Thục, cấm vệ quân dùng không biết bao nhiêu hoả dược, huỷ đường cướp của, dần dần cắt đứt Thục đạo, dựng một toà thành nhân tạo, nối liền hai ngọn ngúi cao hiểm trở. Chẳng qua, như vậy, chặn được truy binh, nhưng cũng chặn hết đường sống của mấy trăm vạn dân chúng đang chạy chốn về Nam.

Mùa thu năm này, Triệu Cư đổi niên hiệu thành Thiên Hữu, lấy Ích Quận làm Tây Kinh, triều đình chính thức ngụ lại Thục Châu, sử sách gọi là “Tây Cẩm”.

Bộ Binh chỉnh đốn cấm vệ quân mang từ kinh thành tới, quân đội phòng vệ kinh kỳ[16] cùng quân đội cần vương[17] Sở Châu, lại trắng trợn trưng binh ngay tại chỗ, cũng có thể lo liệu ra trăm vạn người, lấy lí do là con đường từ Sở Châu nhập Thục – lúc này đã là con đường duy nhất để nhập Thục – thiết lập tầng tầng trạm kiểm soát, canh giữ cẩn thận từng li.

[16] Kinh kỳ: kinh đô và các vùng lân cận.

[17] Cần vương: xả thân vì triều đình.

Quân Tây Nhung trải qua tu chỉnh ngắn ngủi, ngược lại tấn công địa khu Đông Nam.

Triều Cẩm Hạ trải qua xấp xỉ hơn hai trăm năm an nhàn, sĩ dân trên dưới đã sớm không nhìn qua vũ khí. Quân tiên phong Tây Nhung đánh tới, sông núi tan tành, huyết nhục tứ tung, hệt như địa ngục trần gian.

Đầu hạ năm Thiên Hữu thứ ba, Phù Định cùng với Phù Sinh, dẫn hai vạn quân Tây Nhung, kéo binh đến trọng trấn[18] Đồng Thành ở Việt Châu.

[18] Trọng trấn: Thị trấn quan trọng.

Advertisements

2 thoughts on “Nhất sinh cô chú trịch ôn nhu – Dẫn tử

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s